Đặc điểm tâm lý trẻ em | Thiên Thần Nhỏ

Không có bạn, trẻ dễ rối nhiễu tâm trí

Tuy rất muốn hoà nhập nhưng từ khi vào lớp 6 đến nay, Phong (Đông Anh, Hà Nội) vẫn không có người bạn thân nào. Ở trường, cậu bé chỉ ngồi một chỗ nên bị xem là mọt sách. Về nhà ít gặp bố mẹ nên cậu thường lên phòng riêng đọc truyện hoặc chơi điện tử.

Khi được vào đội tuyển ôn thi học sinh giỏi, Phong nghe bạn bè bán tán rằng cậu không giỏi thực sự mà chỉ do giáo viên nâng đỡ. Nhiều lần cậu bị các bạn trêu chọc, chặn đánh giữa đường nhưng chẳng dám kể với ai. Phong buồn chán, không muốn đến trường, mất niềm tin vào bản thân. Cậu thường xuyên nghĩ đến cái chết và một ngày đã uống thuốc ngủ tự tử. Đưa Phong đến bác sĩ tâm lý, bố mẹ cậu mới biết con mình bị rối nhiễu tâm trí vì quá cô độc.

Quỳnh Phương, 14 tuổi (Hà Đông, Hà Tây), cũng được bố mẹ đưa đến gặp chuyên gia tư vấn vì từ 3 tháng nay, cô bé bỗng dưng hay đau đầu, đau bụng nhưng đi khám không phát hiện bệnh gì. Phương lại hay cáu giận, ngày càng trở nên lầm lì, ít nói. Và nguyên nhân cũng là: Cô bé không có ai bên cạnh nữa kể từ khi người bạn thân nhất qua đời.

Phương học rất giỏi nhưng xa cách với bạn bè. "Cháu không thích các bạn vì chẳng có ai hợp và đối xử tốt với cháu cả. Nhiều bạn nói cháu kiêu, một số bạn ghen tị vì lúc nào thày cô cũng khen ngợi cháu". Phương tức giận đến trào nước mắt mỗi khi nhớ đến cảnh các bạn thường xuyên kiếm cớ giật tóc, vẩy mực vào áo, có lúc còn chặn đường doạ nạt, xô cháu ngã đến rách cả quần áo.

Khác với Phương, Ngọc Anh lại không có bạn vì học kém và thiếu kỷ luật. Cậu không biết cách hòa nhập khi chơi với bạn, lại hay bị cô giáo nhắc nhở nên nhiều phụ huynh bảo con không chơi cùng cho đỡ bị ảnh hưởng xấu. Thấy con học kém, bố mẹ cậu bé xin cho con lưu ban nhưng thày cô không đồng ý, nên cậu càng thua kém bạn bè.

Ở lớp, Ngọc Anh hay bị bạn trêu chọc như giấu cặp sách, gọi là thằng ngố. Cậu rất muốn chơi cùng các bạn nhưng mỗi khi lại gần là lại bị tránh nên đành lủi thủi một mình. Vì thế, nhiều lúc cậu bé tìm cách gây sự, đánh bạn để được chú ý.

Theo tiến sĩ Lã Thị Bưởi, tình trạng rối nhiễu tâm trí do không có bạn như các trường hợp trên khá phổ biến. Trong số đó có những trẻ rất thông minh, học giỏi, có trẻ lại học kém, không tập trung chú ý, hiếu động quá mức.

Bà Bưởi cho biết, trẻ em rất cần có bạn, đặc biệt là bạn thân. Tình trạng cô đơn, bị bạn bè trêu chọc, cô lập kéo dài sẽ khiến trẻ tự ti, thu mình lại, buồn chán và không muốn giao tiếp với ai. Điều đó dẫn đến tình trạng cáu giận, không muốn đến trường và thích ở phòng riêng một mình. Nếu kéo dài trẻ dễ bị trầm cảm, lo âu hay ám ảnh sợ hãi.

Cha mẹ cần quan tâm đến chuyện bạn bè của con

Trẻ không có bạn có thể vì tính cách hướng nội, ít giao tiếp, môi trường gia đình, nhà trường không phù hợp, hay thiếu kỹ năng giao tiếp, kết bạn. Vì vậy, cha mẹ cần tạo không khí cởi mở trong nhà, thường xuyên trò chuyện, lắng nghe trẻ để hiểu tính cách, tâm tư con, điều chỉnh những thói quen, hành động không tốt trong quan hệ bạn bè của con, khuyến khích tham gia hoạt động tập thể.

Phụ huynh cần tìm hiểu xem con mình có bạn, nhất là bạn thân hay không. Nên đặc biệt lưu ý nếu:

- Trẻ rất ít kể hay nhắc đến bạn bè.

- Ngoài giờ đến lớp, trẻ hay ở trong phòng riêng một mình, ít giao tiếp, tham gia các hoạt động tập thể.

- Không mời bạn đến nhà chơi, không đi sinh nhật, đi chơi với bạn.

Khi nghi ngờ con mình cô đơn, cha mẹ nên nói chuyện với thày cô giáo để tìm hiểu thêm. Nếu phát hiện trẻ cô đơn, nên trò chuyện với con để tìm hiểu nguyên nhân và giúp đỡ cải thiện tình hình. Cần liên hệ chặt chẽ với thày cô giáo để tránh cho trẻ bị các bạn trêu chọc, lập nhóm học tập để trẻ có thêm cơ hội tiếp xúc và được bạn bè hiểu hơn. Trong một số trường hợp, có thể chuyển trường để tạo một sự đổi mới tích cực.

Nên cho con đến chuyên gia tâm lý nếu trẻ có các biểu hiện thu mình, ít giao tiếp, mệt mỏi, buồn chán, dễ cáu giận hoặc hay lo lắng, căng thẳng.

 

Trẻ thích gây hấn - vì sao ?

Theo chuyên viên tâm lý Lê Khanh, Phó giám đốc Trung tâm Tư vấn tâm lý - đào tạo kỹ năng Rồng Việt Vũng Tàu, trẻ năng động thường mạnh dạn, nhanh nhẹn và thích chơi với nhiều bạn. Trẻ thụ động thường hiền lành, chậm chạp và không thích kết bạn hoặc chỉ thích chơi với một vài bạn thân. Trong quá trình giao tiếp, có những trẻ dễ dàng kết giao với trẻ khác qua sự năng động và vui vẻ của mình, nhưng cũng không ít bé chỉ thích gây hấn. Đây không phải là tính cách bẩm sinh mà chỉ là những hành vi tập nhiễm bởi cách ứng xử của chính người thân với bé một cách vô tình hay cố ý.

Nguyên nhân

Trẻ thích tấn công hay bắt nạt trẻ khác thường do hai nguyên nhân:

Trẻ có tình trạng khó khăn về giao tiếp và ngôn ngữ: do không biết cách “gây chú ý” hay “tạo mối quan hệ” bằng lời nói nên trẻ phải áp dụng kiểu làm quen “bạo lực” mà không nghĩ rằng, như vậy sẽ gây tổn thương cho người mình muốn làm quen. Ban đầu chỉ là các hành vi như kéo áo, khều bạn hoặc nắm tay nhưng lại không gây được chú ý, thậm chí lảng tránh. Sau đó, các trẻ này tăng “cường độ” bằng việc ngắt, véo, cào cấu với một thông điệp đơn giản: “Cho tớ chơi với”, thế là thành trẻ “cá biệt”.

Trẻ sinh ra và lớn lên trong tình trạng bị “bỏ rơi”: bố mẹ bận đi làm và giao bé cho người giúp việc. Chính những người này đã vô tình “huấn luyện” cho bé bằng hành vi chăm sóc bạo lực của mình. Bé nhiễm các hành vi này, dần dần biến thành một kẻ cũng thích “chăm sóc” người khác bằng bạo lực. Đôi khi vì trẻ biếng ăn, hay quấy khóc hoặc “lì lợm”, bố mẹ thường quát mắng và đánh đập để trẻ phải vâng lời. Lâu dần trẻ “học” tính nóng nảy từ bố mẹ và áp dụng lại với bạn bè. Ngoài ra, không loại trừ một số trường hợp, ban đầu trẻ cũng hiền lành và thụ động, sau đó trở thành “nạn nhân” của trẻ khác.

Cũng có những bé, khi bắt đầu có những hành vi “bạo lực” với bố mẹ và người thân trong gia đình, lại không được kiềm chế, người lớn để cho trẻ tự do thực hiện các hành vi này. Khi đã hình thành… thói quen trong nhà thì việc trẻ mang đến trường “thực hành” với các bạn là điều tất nhiên. Khi đứng trước việc con mình bị ngắt, nhéo, đấm đá... nhiều phụ huynh lại dạy con phản ứng lại theo kiểu đáp trả vì xem đó là hành vi “tự vệ chính đáng”. Trẻ học được cách phản ứng và dần dần biến nó thành hành vi tấn công.

Như vậy, dù do nguyên nhân gì, thì một bé có những phản ứng hung hăng, khó có thể cho rằng đó là một trẻ “thô bạo” hay sớm bộc lộ tính cách “anh chị” bẩm sinh, mà chỉ là dấu hiệu cho thấy trẻ đang gặp phải những khó khăn trong giao tiếp hoặc do sự “lệch hướng” trong giáo dục con của phụ huynh. Vì thế, các phụ huynh cần kiểm tra lại, nếu trẻ có những khó khăn về giao tiếp thì cần có sự thăm khám về tâm lý xem trẻ có mắc phải các rối nhiễu về ngôn ngữ hay giao tiếp, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp sớm.

Định hướng hành vi cho trẻ

Người lớn cần kiểm soát bản thân, ngưng ngay các biện pháp “bạo lực” với trẻ để trẻ dần dần quên đi các thói quen này. Để kiềm chế trẻ “bạo lực”, cần phải dùng biện pháp cách ly, có thể cho bé ngồi yên một chỗ trong một thời gian ngắn (tính bằng phút, tương ứng với số tuổi của bé). Chẳng hạn như trẻ ba tuổi cách ly ba phút, trẻ năm tuổi cách ly năm phút. Chúng ta buộc trẻ ngồi yên trên một cái ghế và sẽ lặp lại thời gian bị phạt nếu trẻ phản ứng hay đứng dậy trước khi hết hạn. Dĩ nhiên bố mẹ không nên phạt trẻ rồi “quên”, bắt trẻ phải ngồi yên trên 15, 20 phút. Chúng ta không cần phải hù dọa, răn đe trẻ bằng các lời giảng đạo đức dài dòng vì trẻ sẽ không thể nhớ được. Ngược lại, cần phải khen ngợi khi trẻ có những hành vi ứng xử tốt để trẻ ghi nhớ và lặp lại các hành vi đó, quên dần đi các hành vi hung bạo hay tiêu cực.

Nên nhớ rằng, các thói quen “hung bạo” này không phải trong một sớm một chiều mà trẻ học được. Vì vậy, cũng không có biện pháp nào có thể dập tắt hay cải thiện một cách nhanh chóng các hành vi này. Dĩ nhiên, với thói quen ăn hiếp bạn bè như thế, nếu không có các biện pháp điều chỉnh và giải quyết kịp thời, trẻ sẽ trở nên ích kỷ, lại càng gặp khó khăn hơn trong việc giao tiếp và cũng không biết quý trọng chính bản thân mình. Khi lớn hơn, các bé này dễ trở nên vô kỷ luật, luôn tìm cách chống đối hay thống trị mọi người, mọi thứ chung quanh. Và khi trẻ gặp phải một sự phản ứng mạnh mẽ hơn, trẻ sẽ trở nên bất ổn, lo lắng và dễ bị kẻ mạnh hơn mình tác động.

Chuyên viên tâm lý Lê Khanh nhấn mạnh: “Tất cả những yếu tố này khiến các em sẽ gặp nhiều khó khăn và thất bại trong việc hòa nhập với bạn bè, với môi trường xung quanh, thậm chí ngay cả trong gia đình. Phụ huynh cần hết sức lưu ý, đừng để trẻ biến thành một kẻ khó khăn trong giao tiếp và thất bại trong cuộc sống vì sự vô tâm của mình”.

 

Xây dựng tính kỷ luật cho trẻ

Đây là một tố chất cần thiết cho con người và được hình thành qua sự giáo dục. Điều này cần phải được tiến hành càng sớm càng tốt ngay từ khi còn bé, vì nếu không thì sẽ đến một độ tuổi nào đó, con người sẽ không còn khả năng nhận biết để tự giác chấp hành những nguyên tắc về kỷ luật nữa mà luôn luôn cần có sự giám sát và những biện pháp chế tài. Thậm chí, nếu biện pháp chế tài không hợp lý và đủ mạnh và sự giám sát không hợp lý, lúc thì quá gò bó, khi lại quá lỏng lẻo… thì lại càng làm cho tinh thần kỷ luật giảm sút nhanh hơn, dễ dàng đi đến mức độ vô kỷ luật và sẽ rất nguy hại nếu trẻ xem chuyện vô kỷ luật là chuyện …bình thường !

Nhưng kỷ luật không có nghĩa là sự áp đặt, buộc mọi người phải tuân theo những luật lệ do một vài người hay một tập thể nào đó đặt ra một cách độc đoán, mà không dựa vào các nguyên tắc cơ bản của xã hội và tình người. Đó phải là những nguyên tắc mang tính thỏa thuận, được chấp hành bằng sự ý thức và tôn trọng và phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Chính vì thế, khi muốn rèn luyện cho trẻ tính kỷ luật, thì người lớn phải là những tấm gương, và những nguyên tắc đặt ra thì tất cả mọi người từ trên xuống dưới đều phải hiểu và chấp hành. Từ đó, đứa trẻ mới hình thành được tinh thần tự giác về kỷ luật, còn nếu không sẽ hình thành một tính cách còn tệ hại hơn cả sự vô kỷ luật, đó là tính đạo đức giả hay hình thành sự dối trá, đóng kịch với nhau.

Các nguyên tắc về kỷ luật được đưa ra là nhằm xây dựng ý thức cho mỗi một con người qua các hình thức rèn luyện khác nhau trong những môi trường khác nhau, đặc biệt là tại gia đình và nhà trường và khi đã được đưa ra, thì phải áp dụng đúng mức, không mang tính làm gương ( phạt nặng ) hay thông cảm ( phạt nhẹ ) so với những gì đã quy định.

1. Ý thức chấp nhận :

Với trẻ 5 tuổi, mặc dù trẻ đã phân biệt được giữa bản thân và người khác nhưng trẻ chỉ có thể chấp nhận những yêu cầu được đặt ra cho trẻ, nếu như chính người lớn cũng tuân thủ các yêu cầu đó. Bố mẹ không thể dạy trẻ chấp nhận việc thức dậy sớm, giữ vệ sinh trong gia đình, ngồi vào bàn ăn uống đàng hoàng… khi bố mẹ cứ thản nhiên ngủ nướng (điều này thì chắc ít xảy ra trừ Chủ Nhật) Nhưng có thể do bố mẹ cứ lục đục bên máy vi tính hay xem phim đến nửa đêm, làm trẻ không ngủ sớm được và vì thế hôm sau chắc khó mà thức dậy sớm. Vì vậy, khi muốn thức khuya, chúng ta nên làm việc xa nơi trẻ ngủ hay đợi trẻ đã ngủ say, rồi muốn gì thì…muốn !

Ngoài ra, nếu ông bố cứ gác chân lên bàn khi xem phim, ăn uống ngồm ngoàm, vừa ăn vừa đọc báo thì việc dạy con những nguyên tắc về ăn uống chắc là hơi bị …khó, nếu không muốn nói là không thể! Ngược lại, nếu một bà mẹ quá kỹ tính, luôn luôn đòi hỏi nhà cửa lúc nào cũng sạch sẽ tinh tươm, ăn cơm thì không được rơi vãi…Chỉ cần một sai sót nhỏ là có thể “bão nổi lên rồi” thì điều đó thay vì đạt được kết quả như mong muốn thì sẽ có thể tạo cho con sự ức chế, chống đối ngấm ngầm và đưa đến những phản ứng như ù lì, làm việc gì cũng lề mề, tìm cách kéo dài thời gian một cách không cần thiết hay cũng “thừa hưởng” tính chất này mà trở nên một con người cầu toàn, khó tính và chỉ thích buộc người khác làm theo ý mình.

Như vậy, để dạy trẻ ý thức chấp nhận các nguyên tắc kỷ luật thì trước tiên bố mẹ phải là người làm gương đầu tiên. Sau đó mới có thể nhắc nhở, khuyến khích và nếu trẻ chấp hành tốt thì còn đợi gì mà không khen thưởng cho trẻ bằng một cái vỗ tay, ôm hôn “thắm thiết” ! Việc khen thưởng động viên phải dựa trên nguyên tắc: Trẻ làm tốt thì được khen, và chỉ khen trong thời gian đầu, khi đã trở nên thường xuyên thì thôi. Lúc đó sẽ chuyển việc khen ngợi qua các đòi hỏi cao hơn hay những yêu cầu khác, nhưng phải phù hợp với năng lực phát triển của trẻ.

Chúng ta không yêu cầu trẻ làm tốt để được khen thưởng, và càng không dùng việc khen thưởng như một việc trao đổi: Con làm điều này đi thì mẹ sẽ khen hay thưởng cho con điều con thích ! Thậm chí có nhiều phụ huynh còn ra giá:“ Nếu con viết xong trang tập viết này, mẹ sẽ mua cho que kem Chocolate , nếu con khoanh tay chào bác, mẹ sẽ cho con cái bánh quy kem..v.v Điều đó có thể khiến cho trẻ thi hành đúng theo “hợp đồng” để được phần thưởng, chứ không tập được ý thức tự giác. Nếu sau khi trẻ làm xong, thì điều tệ hại nhất là lại nói với con : “Con giỏi quá, con ráng viết thêm đi, mẹ sẽ cho con sau” hay “ Có gì lát nữa, hay ngày mai mẹ sẽ mua cho con, bây giờ mẹ chưa có tiền!” và sau đó thì lờ luôn, hay đến lúc đó nếu trẻ còn nhớ và nhắc nhở, mới miễn cưỡng đi mua cho con !

Điều đó sẽ làm cho trẻ không còn tin vào chúng ta nữa, hoặc việc vâng lời theo hợp đồng sẽ trở nên thường xuyên hơn, và lúc đó thì chúng ta đã biến trẻ thành một kẻ thực dụng ngay từ khi còn bé, và hậu quả về việc này đôi khi chính chúng ta là người lãnh đủ !

2. Ý thức tự giác:

Ý thức tự giác là một điều cần phải được rèn tập chứ không thể tự nhiên mà có. Điều này cần được tiến hành vào giai đoạn 4- 5 tuổi là tốt nhất, vì ở độ tuổi này các em mới có được khả năng liên kết các chuỗi sự kiện với nhau, và biết sắp xếp một cách hợp lý các thông tin, hình ảnh để hình thành một chuỗi các sự kiện theo thời gian. Trẻ sẽ biết rằng, muốn quét nhà phải đi tìm cái chổ, có chổi mới quét được nhà, quét nhà thì sẽ làm cho nhà sạch, mà nhà sạch thì bố mẹ tỏ ra vui thích. Điều này sẽ làm cho trẻ hãnh diện, và đó là khởi đầu cho sự tự tin, một kỹ năng sống hết sức quan trọng không chỉ với trẻ mà ngay cả với người lớn !

Việc tập cho trẻ ý thức tự giác tuy đơn giản nhưng không dễ, vì chúng ta thường có thói quen ra lệnh với trẻ, con phải làm cái này, con phải làm cái kia .v.v. Ngoài ra, chúng ta cũng thường cho rằng trẻ còn nhỏ, tay chân còn vụng về, nếu để trẻ tự làm vừa chậm lại có khi hỏng bét ! Điều đó là đúng nếu ta muốn trẻ cứ tiếp tục sự vụng về như thế cho đến khi vào lớp 1 thậm chí cho đến tuổi trưởng thành , bằng cách không yêu cầu trẻ phụ giúp việc nhà nữa.Ngược lại, nếu muốn giúp trẻ có khả năng tự lập sau này, thì ngay từ bé, hãy bắt đầu bằng những việc đơn giản nhất, để cho trẻ tự làm những việc trong khả năng có thể. Chính những vụng về ban đầu, sẽ giúp trẻ hoàn thiện dần dần các kỹ năng để từ đó đưa đến một nền tảng vững chắc cho khả năng tự lập sau này.

3. Khả năng tự chủ:

Tự chủ là có khả năng chỉ huy chính mình và giữ được sự ổn định về tâm lý trong mọi hoàn cảnh. Tự chủ được xem là một cảm xúc có giá trị vì đây là một trong những yêu cầu cơ bản nhất để xác định mức độ trưởng thành của một con người.

Khả năng tự chủ của một đứa trẻ thường phụ thuộc vào các yếu tố:

Tính khí của trẻ: Có những trẻ rất nóng nảy, hiếu động hoặc giàu cảm xúc, những trẻ này muốn đạt được khả năng tự chủ sẽ không phải là điều đơn giản. Ngược lại có những trẻ tính điềm đạm, thậm chí là lạnh lùng và vô tình thì khả năng tự chủ sẽ dễ dàng hơn.

Môi trường sống: Trẻ sinh ra và lớn lên trong một khu xóm lao động, hay nơi phố thị ồn ào náo nhiệt, thì sẽ khó có được sự tự chủ bằng những kẻ sinh ra và lớn lên ở những khu xóm yên tĩnh, hay vùng nông thôn, vùng núi cao vắng vẻ.

Môi trường giáo dục: Một hệ thống giáo dục ổn định, phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý của từng lứa tuổi và có những yếu tố kích thích tính sáng tạo sẽ giúp trẻ dễ dàng thu nạp và hình thành được khả năng tự chủ hơn một hệ thống giáo dục bất ổn, áp đặt theo những khuôn mẫu cho sẵn.

Tuy nhiên, cho dù một đứa trẻ có gặp phải những điều không thuận lợi về tính khí, về môi trường sống và môi trường giáo dục tại nhà trường, mà lại được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có một bầu không khí ấm cúng, vui tươi và ổn định thì chắc chắn trẻ cũng sẽ có khả năng hình thành sự tự chủ của mình một cách dễ dàng hơn, nhất là khi trẻ nhận được từ bố mẹ một sự chăm sóc, giáo dục đúng cách và phù hợp thì vẫn có thể phát triển được khả năng tự chủ ở một mức độ nào đó.